Làng nghề đóng xuồng Mỹ Hiệp: Hành trình vượt sóng thời gian

Có những làng nghề sinh ra cùng dòng sông. Với người dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới (An Giang), tiếng cưa, tiếng bào và mùi gỗ sao thơm nồng từng là âm thanh quen thuộc của cuộc sống. Hơn một thế kỷ qua, làng nghề đóng xuồng Mỹ Hiệp đã tạo nên những chiếc xuồng gỗ bền chắc, theo chân người dân khắp Đồng bằng sông Cửu Long mưu sinh giữa mùa nước nổi.
Thế nhưng hôm nay, trở lại làng nghề, khung cảnh đã khác. Những xưởng đóng xuồng từng đỏ lửa quanh năm nay chỉ còn lác đác vài hộ còn giữ nghề. Tiếng đục, tiếng đẽo thưa dần, nhường chỗ cho sự lặng lẽ của một làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một.

Hơn 100 năm theo nhịp sông nước
Làng nghề đóng xuồng Mỹ Hiệp có lịch sử hơn 100 năm. Từ những đôi tay tài hoa của người thợ, đủ loại phương tiện thủy được ra đời: xuồng ba lá, xuồng cui, xuồng lường, xuồng Ông Chưởng, vỏ lãi, ghe cà dom đến những chiếc ghe lớn chở hàng trăm tấn.
Điểm đặc biệt của làng nghề là nguồn nguyên liệu chủ yếu được làm từ gỗ sao – loại gỗ nổi tiếng bởi độ bền, chắc và chịu nước tốt. Nhờ đó, những chiếc xuồng Mỹ Hiệp không chỉ đẹp về hình dáng mà còn có tuổi thọ cao, được người dân nhiều tỉnh miền Tây, cả Campuchia, tin dùng.
Có thời điểm, mỗi năm làng nghề xuất xưởng hơn một nghìn chiếc xuồng các loại. Nghề phát triển mạnh đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động địa phương và giúp nhiều gia đình vươn lên ổn định cuộc sống.

Một chiếc xuồng, nhiều công đoạn
Để hoàn thiện một chiếc xuồng gỗ, người thợ phải trải qua hàng loạt công đoạn đòi hỏi sự chính xác và kinh nghiệm.
Từ việc chọn cây gỗ già, ngâm gỗ, cưa xẻ, phơi nắng, uốn be, đóng thân xuồng, trét chai chống thấm đến lắp sạp và hoàn thiện, mỗi bước đều quyết định độ bền của sản phẩm.
Theo bà Ngô Nguyễn Thị Bích, chủ một cơ sở đóng xuồng tại ấp Tây Thượng, một chiếc xuồng dài khoảng 6 mét cần ba ngày để hoàn thành. Những người thợ được trả công theo sản phẩm và phải phối hợp nhịp nhàng trong từng công đoạn để tạo nên chiếc xuồng đạt chuẩn.
Không chỉ là công việc chân tay, nghề đóng xuồng còn là sự tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ. Chỉ cần sai lệch một vài centimet ở phần be xuồng hay đáy xuồng cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng cân bằng khi xuống nước.

Khi dòng nước đổi thay, làng nghề cũng đổi thay
Nếu như trước đây, mùa nước nổi là thời điểm các xưởng hoạt động hết công suất thì nay, lượng đơn hàng giảm mạnh.
Biến đổi của điều kiện tự nhiên, mực nước thấp hơn trước, nhu cầu đánh bắt thủy sản giảm cùng sự xuất hiện của xuồng nhựa composite đã khiến xuồng gỗ truyền thống dần mất đi lợi thế.
Từ hơn 100 hộ sản xuất lúc hưng thịnh, đến năm 2018 làng nghề còn khoảng 20 hộ. Hiện nay chỉ còn ba hộ duy trì hoạt động, chủ yếu nhận đóng theo đơn đặt hàng.
Ông Lê Văn Tùng, người đã có hơn 30 năm theo nghề do ông nội truyền lại, cho biết lượng xuồng hiện nay giảm hơn 90% so với trước. Thu nhập không còn đủ hấp dẫn để giữ chân lớp trẻ, phần lớn con cháu đều lựa chọn làm việc tại các thành phố thay vì tiếp tục nghề của gia đình.
"Tôi yêu nghề nên còn làm tới giờ. Nhưng nhìn tình hình này thì cũng lo một ngày nào đó làng nghề chỉ còn trong ký ức", ông chia sẻ.
Nỗi trăn trở ấy cũng là tâm sự chung của nhiều nghệ nhân lớn tuổi còn gắn bó với nghề. Với họ, điều tiếc nuối nhất không phải là thu nhập giảm, mà là ngày càng ít người muốn tiếp nối một nghề đã nuôi sống biết bao thế hệ.

Tìm hướng đi mới để giữ nghề
Trước sự thu hẹp của thị trường, nhiều cơ sở đã chủ động thay đổi.
Ngoài những chiếc xuồng phục vụ đi lại và đánh bắt thủy sản, các nghệ nhân còn chế tác xuồng mô hình với nhiều kích thước khác nhau để làm quà tặng, vật trang trí hoặc trưng bày. Những sản phẩm nhỏ này tuy mất nhiều thời gian chế tác nhưng mở ra một phân khúc khách hàng mới, góp phần tạo thêm nguồn thu cho làng nghề.
Đây được xem là bước chuyển mình cần thiết trong bối cảnh nhu cầu sử dụng xuồng truyền thống ngày càng giảm.
Giữ lại tiếng bào giữa miền sông nước
Làng nghề đóng xuồng Mỹ Hiệp không chỉ tạo ra phương tiện đi lại mà còn lưu giữ một phần lịch sử của văn hóa sông nước Đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi chiếc xuồng gỗ là kết tinh của kinh nghiệm, sự khéo léo và tình yêu nghề được truyền qua nhiều thế hệ.
Để những thanh âm quen thuộc của tiếng cưa, tiếng bào không chỉ còn trong ký ức, làng nghề cần thêm những cơ hội mới: quảng bá sản phẩm, kết nối du lịch, phát triển các dòng sản phẩm lưu niệm và ứng dụng truyền thông số để đưa câu chuyện của người thợ đến gần hơn với công chúng.
Bởi giữ lại một làng nghề cũng chính là giữ lại một phần bản sắc của miền Tây sông nước.
Thực hiện: Nguyễn Trần Yến Vy