Tranh kiếng Bà Vệ – Di sản soi bóng thời gian

Giữa vùng cù lao Chợ Mới (An Giang), có một làng nghề đã tồn tại gần một thế kỷ, lặng lẽ lưu giữ những giá trị văn hóa của miền Tây Nam Bộ bằng những nét cọ ngược trên mặt kính. Đó là làng nghề tranh kiếng Bà Vệ – nơi mỗi bức tranh không chỉ là một sản phẩm thủ công mà còn là ký ức, tín ngưỡng và tâm hồn của bao thế hệ người dân vùng sông nước.
Những ngày cận Tết, dọc khu vực chợ Bà Vệ, xã Long Điền B, không khí làm nghề lại rộn ràng hơn thường lệ. Tiếng cọ vẽ, tiếng trò chuyện của thợ và những chuyến xe đến nhận hàng tạo nên nhịp sống quen thuộc đã kéo dài qua nhiều thập kỷ. Với người làm nghề, đây luôn là mùa bận rộn nhất trong năm.

Nhờ phù hợp với đời sống tín ngưỡng của người Nam Bộ, tranh kiếng nhanh chóng được đón nhận và có mặt ở nhiều tỉnh miền Tây. Đến năm 2006, làng nghề tranh kiếng Bà Vệ được UBND tỉnh An Giang công nhận là làng nghề truyền thống.
Theo nghệ nhân Nguyễn Thanh Hòa – người đã có hơn 30 năm gắn bó với tranh kiếng – nghề này xuất hiện ở cù lao Chợ Mới từ khoảng những năm 1950. Những người thợ đầu tiên học nghề tại Lái Thiêu, Chợ Lớn rồi mang kỹ thuật về quê mở xưởng sản xuất. Nhờ phù hợp với đời sống tín ngưỡng của người Nam Bộ, tranh kiếng nhanh chóng được đón nhận và có mặt ở nhiều tỉnh miền Tây. Đến năm 2006, làng nghề tranh kiếng Bà Vệ được UBND tỉnh An Giang công nhận là làng nghề truyền thống.
Điều tạo nên sự khác biệt của tranh kiếng chính là kỹ thuật vẽ ngược. Nếu tranh thông thường được hoàn thiện từ nền đến chi tiết, thì tranh kiếng lại làm theo trình tự ngược lại. Những nét vẽ nhỏ nhất như đôi mắt, đường viền hay hoa văn phải được thực hiện trước, sau đó mới đến các lớp màu và nền tranh.

Điều đặc biệt là phần lớn nghệ nhân nơi đây chưa từng qua trường lớp mỹ thuật. Nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng kinh nghiệm, sự quan sát và tình yêu dành cho từng bức tranh.
Điều tạo nên sự khác biệt của tranh kiếng chính là kỹ thuật vẽ ngược. Nếu tranh thông thường được hoàn thiện từ nền đến chi tiết, thì tranh kiếng lại làm theo trình tự ngược lại. Những nét vẽ nhỏ nhất như đôi mắt, đường viền hay hoa văn phải được thực hiện trước, sau đó mới đến các lớp màu và nền tranh.
Người trong nghề gọi công đoạn khó nhất là "tỉa" và "tách". Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến cả bức tranh phải làm lại từ đầu. Vì vậy, người thợ không chỉ cần đôi tay khéo léo mà còn phải hình dung sẵn toàn bộ bố cục ngay từ khi đặt nét cọ đầu tiên.
Điều đặc biệt là phần lớn nghệ nhân nơi đây chưa từng qua trường lớp mỹ thuật. Nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng kinh nghiệm, sự quan sát và tình yêu dành cho từng bức tranh. Mỗi sản phẩm đều mang dấu ấn riêng của người vẽ, không có hai tác phẩm hoàn toàn giống nhau.
Tranh kiếng Bà Vệ chủ yếu phục vụ không gian thờ cúng và trang trí trong gia đình. Những gam màu đỏ, vàng được sử dụng nhiều, tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Ngoài tranh thờ thần, Phật hay tổ tiên, các nghệ nhân còn thể hiện nhiều tích truyện quen thuộc như Thoại Khanh – Châu Tuấn, Lưu Bình – Dương Lễ, Phạm Công – Cúc Hoa... gửi gắm những bài học về tình nghĩa vợ chồng, bạn bè và đạo hiếu. Bên cạnh đó là những bức tranh phong cảnh đồng quê, núi non thanh bình mang đậm hơi thở Nam Bộ.
Có thời kỳ, tranh kiếng Bà Vệ bước vào giai đoạn hưng thịnh nhất. Từ những năm 1980 đến cuối thập niên 1990, hơn 100 hộ dân trong xã cùng theo nghề. Mỗi dịp cuối năm, đèn trong các xưởng sáng suốt ngày đêm để kịp giao hàng. Ghe xuồng tấp nập theo các tuyến kênh rạch chở tranh đi khắp Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều tỉnh Nam Bộ.

Thế nhưng, sự thay đổi của đời sống hiện đại đã khiến làng nghề dần trầm lắng.


Những ngôi nhà gỗ ba gian, hai chái – nơi tranh kiếng từng là vật trang trí không thể thiếu – dần được thay bằng nhà xây hiện đại. Tranh in công nghiệp, tranh ảnh giá rẻ xuất hiện ngày càng nhiều, khiến nhu cầu dành cho tranh kiếng truyền thống giảm mạnh. Từ hơn một trăm hộ làm nghề, nay chỉ còn chưa đến mười hộ còn gắn bó.
Ông Nguyễn Thanh Hòa là một trong số ít nghệ nhân vẫn quyết định ở lại.
Ông chia sẻ rằng mình là thế hệ thứ hai tiếp nối nghề của gia đình. Nhiều người bạn cùng thời đã chuyển sang công việc khác, nhưng với ông, tranh kiếng không đơn thuần là kế sinh nhai. Đó còn là ký ức về cha ông, về những người thợ đã góp phần tạo nên danh tiếng của làng nghề Bà Vệ.
Hiện nay, mỗi tháng cơ sở của ông cung ứng vài trăm bức tranh và khoảng một nghìn bức vào dịp Tết. Tùy kích thước, chất liệu và yêu cầu chế tác, giá mỗi sản phẩm có thể dao động từ vài trăm nghìn đồng đến hàng chục triệu đồng.

Để thích nghi với thị trường, nhiều cơ sở đã kết hợp công nghệ hiện đại như thiết kế trên máy tính, in lụa hay tranh 3D nhằm đáp ứng thị hiếu đa dạng của khách hàng. Tuy nhiên, theo các nghệ nhân, tranh công nghiệp vẫn khó có thể thay thế vẻ đẹp và chiều sâu của những bức tranh được vẽ hoàn toàn bằng tay.
Điều đáng mừng là các cơ sở vẫn nhận phục chế những bức tranh cũ và chế tác tranh truyền thống theo yêu cầu. Mỗi đơn hàng không chỉ mang lại nguồn thu mà còn là động lực để những người thợ tiếp tục cầm cọ, gìn giữ một nghề đã gắn bó với vùng đất cù lao suốt nhiều thế hệ.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng nghề truyền thống dần phai nhạt, tranh kiếng Bà Vệ vẫn hiện diện như một mảnh ghép văn hóa đặc sắc của Đồng bằng sông Cửu Long. Và chừng nào còn những người nghệ nhân vẫn miệt mài với từng nét vẽ ngược trên mặt kính, chừng đó hồn của làng nghề vẫn còn được gìn giữ.
Thực hiện: — Nguyễn Trần Yến Vy